Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (5/5/1902 - 5/5/2022): Phan Đăng Lưu và hành trình từ nhà Nho trở thành người cộng sản

Phan Đăng Lưu sinh ngày 5 tháng 5 năm 1902 tại xã Tràng Thành (nay là Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Cũng giống như nhiều nhà cách mạng đương thời, Phan Đăng Lưu đã đi từ một nhà Nho, từ một người yêu nước theo tinh thần dân tộc đến với chủ nghĩa cộng sản. Và, cũng giống như nhiều nhà yêu nước đương thời, ông đã đem thân mình đền nợ nước.

Bỏ bút lông theo bút sắt và trở thành người cộng sản

Những năm đầu thế kỷ XX, chữ Nho đã dần dần được thay thế bằng chữ quốc ngữ, kể cả việc thi cử tuyển chọn nhân tài. Kỳ thi Hương cuối cùng theo cn đường nho học diễn ra vào năm 1918 và kỳ thi Hội cuối cùng diễn ra sau đó 1 năm, năm 1919 để rồi chấm dứt hẳn. Cũng như nhiều trí thức đương thời, Phan Đăng Lưu đã tham dự kỳ thi Hương khoa thi cuối cùng, dù phải khai tăng thêm tuổi. Nhận thấy “bút lông” đã hết thời, ông chuyển qua học chữ quốc ngữ và chữ Pháp tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh và Trường Quốc học Huế.

Tiếp thu văn hóa phương Tây, Phan Đăng Lưu thi vào Trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang với quan niệm rằng "hiện nay ích nước, lợi dân không gì bằng mở mang nông nghiệp, mà muốn thế, thì phải thâu thái những cái hay của các nước văn minh trong nghề đó". Sau khi tốt nghiệp hạng ưu năm 1923, ông được bổ vào ngạch Thông phán, làm nhân viên tại Sở Canh nông Bắc Kỳ, vì vậy còn được gọi là ông Phán Tằm. Từ khi được đổi về Vinh – Nghệ An làm việc vào năm 1925, Phan Đăng Lưu có những liên lạc đầu tiên với những nhà cách mạng của Hội Phục Việt. Nhờ vốn tiếng Pháp, ông đã có dịp tiếp xúc với những tài liệu Cộng sản bằng tiếng Pháp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của các nhà tư tưởng của chủ nghĩa Cộng sản truyền vào Việt Nam.

Năm 1925, cùng với các giới nhân sĩ và đồng bào, ông ký tên vào bản yêu sách đòi chính quyền thực dân Pháp trả lại tự do cho chí sĩ Phan Bội Châu. Vì việc này, ông đã bị chính quyền thực dân đổi công tác đi xa để tách khỏi ảnh hưởng. Năm 1926, một số thành viên Hội Việt Nam Thanh niên dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu – Trung Quốc đã về Việt Nam tìm cách móc nối với ông. Vì các hoạt động chống đối chính quyền thuộc địa, Phan Đăng Lưu bị đổi đi nhiều nơi và cuối cùng bị sa thải vào năm 1927 vì "vô kỉ luật, hoạt động chống đối". Trở về quê nhà, ông tham gia các hoạt động yêu nước của Hội Phục Việt, sau này đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng. Ông được bầu làm Ủy viên thường vụ Tổng bộ phụ trách Tuyên huấn. Trong vai trò này, ông cùng với Đào Duy Anh và một số đồng chí khác dịch, hiệu đính, biên soạn một số tài liệu cho cơ quan xuất bản của Đảng là "Quan hải tùng thư" nhiều tài liệu, trong đó có những tài liệu tuyên truyền về chủ nghĩa Mác.

Sau nhiều lần bắt liên lạc với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên không thành công, ông cùng nhiều nhà yêu nước bị bắt, xử tù và đưa đi giam cầm ở nhà tù Buôn Ma Thuột. Trong tù, ông vận động anh em học tiếng Êđê và làm báo tiếng Ê đê để thực hiện công tác binh vận người dân tộc thiểu số và viết báo gửi ra ngoài tố cáo chế độ tàn bạo của thực dân Pháp. Năm 1936, ông được ra tù, nhưng thực dân Pháp không cho ông về quê mà quản thúc ông ở Huế. Ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng và đã có những đóng góp xuất sắc vào các cuộc vận động hợp pháp và nửa hợp pháp ở Trung Kỳ…

 Nhà lãnh đạo tài năng của Đảng

Tháng 9/1937 ông tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Hóc Môn, Bà Điểm, Gia Định và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 3/1938, Hội nghị đại biểu cả ba Xứ ủy bầu ra Ban Chấp hành mới, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn lập ra Ban Thường vụ. Tại Hội nghị này, ông Hà Huy Tập thôi chức Tổng Bí thư và Hội nghị đã bầu ông Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư mới (Tổng Bí thư thứ 4 của Đảng). Tháng 9/1939, ông được điều động vào Nam Kỳ hoạt động và được Trung ương phân công phụ trách phong trào cách mạng các tỉnh Nam Kỳ.

Tháng 11/1939, ông tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 tại Bà Điểm, Hóc Môn. Hội nghị Trung ương 6 đã phân tích tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai; nhận định tình hình Đông Dương và khẳng định phát xít Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật và đưa ra kết luận chế độ cai trị ở Đông Dương đã trở thành chế độ phát xít "một thứ phát xít quân nhân thuộc địa nên lại càng tham tàn độc ác bội phần". Toàn bộ đời sống xã hội của các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương bị đảo lộn. Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu "tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc".

Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý luận cách mạng phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Trung - Nam - Bắc…

Sau Hội nghị này, từ tháng 4/1940 đến Hội nghị Tái lập Ban Chấp hành Trung ương, ông trực tiếp lãnh đạo điều hành hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương (thực hiện vai trò, chức trách của Tổng Bí thư). Tháng 7/1940, Xứ ủy Nam Kỳ đề ra chủ trương khởi nghĩa. Lấy tư cách đại diện Trung ương đến dự, với phân tích sâu sắc ông chỉ ra rằng “không thể đùa với khởi nghĩa, không thể đưa quần chúng đến chỗ hy sinh vô ích; Phải có lệnh của Trung ương mới được thi hành" và ông khuyên Xứ ủy hãy chờ xin chỉ thị của Trung ương. Tháng 10/1940, ông bí mật từ miền Nam ra Bắc để tiến hành triệu tập và tổ chức Hội nghị Tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chính thức chuyển cơ quan Trung ương từ Nam ra Bắc. Tháng 11/1940, tại Đình Bảng, Bắc Ninh, ông chủ trì Hội nghị Tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thường gọi là Hội nghị Trung ương 7. Tại Hội nghị, ông được đề cử làm Tổng Bí thư, nhưng ông không nhận, vì ông cho rằng mình cần về miền Nam, trong đó Xứ ủy và nhân dân đang ngóng chờ kết quả chuyến đi và đề phòng ông bị bắt, sẽ gây trở ngại cho Trung ương mới được củng cố ở miền Bắc. Ngay sau Hội nghị, ông quay trở lại miền Nam để hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ, theo quyết định của Hội nghị Trung ương. Nhưng do có kẻ chỉ điểm, ông đã bị mật thám Pháp bắt vào đêm 22-11/1940 khi vừa mới đặt chân về Sài Gòn, chưa kịp truyền đạt chỉ thị của Trung ương về việc hoãn khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra ngày 23/11/1940 và đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man gây tổn thất vô cùng lớn.

Đem thân mình đền nợ nước

Tòa án binh của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn trong các phiên xử ngày 25/3/1941 và ngày 03/4/1941 đã tuyên án tử hình đồng chí Phan Đăng Lưu. Bị dư luận nhân dân phản đối, ngày 28/8/1941, thực dân Pháp bí mật đưa đồng chí Phan Đăng Lưu và một số đồng chí khác ra bắn tại ngã ba Giồng, xã Tân Thới Thượng (Hóc Môn, Gia Định).

Khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn, Phan Đăng Lưu đã gửi cho con của mình một bức thư. Bức thư có đoạn:

“…Nhưng con yêu quý con đừng buồn, con cố gắng lau khô nước mắt của mẹ con, hãy an ủi mọi người trong gia đình, nhất thiết đừng có chạy chọt, điều đó chỉ uổng công vô ích thôi.

Trong lúc chờ quyết định cuối cùng từ Pháp sang, cha hiện đang bị nhốt tại khám lớn Sài Gòn, phòng số 13. Chế độ dành cho cha và các bạn tù có thể nói là không chê trách được, nếu như không khí ở đây không ngột ngạt, vì phòng giam đúng là một cái lò, trong đó mọi người bị rang lên thật sự. Chỉ sợ cha và các bạn không thể sống lay lắt cho đến ngày hành hình.

Dẫu sao, cha cùng bình tâm nhận số phận đã dành cho mình và kiên gan chịu đựng.

Một lần nữa, con hãy tự an ủi và làm khuây lòng tất cả những người mà cha thương mến. Con trả lời cho cha càng sớm càng tốt”.

Khi bị tuyên án tử hình, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn bình tĩnh, kiên định, tỏ rõ thái độ của người cộng sản kiên trung và khẳng khái: "Tôi không sợ chết… Nếu còn sống, nhất định tôi sẽ tìm cách vượt ngục để về hoạt động cách mạng".

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Quê Mẹ” đã viết:

“Con lớn lên, con tìm Cách mạng

Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi”

“Anh Lưu” đã dạy Tố Hữu đi ấy chính là nhà cách mạng Phan Đăng Lưu. Trong một bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu vào năm 2002, nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Phan Đăng Lưu là nhà lãnh đạo lỗi lạc, trí tuệ uyên bác, tác phong giản dị, gần gũi đã có sức cuốn hút lớp trí thức trẻ như chúng tôi và cả những trí thức lớn như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng...”.

Hồng Phúc

TUYÊN TRUYỀN
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 10
  • Hôm nay: 312
  • Trong tuần: 18,741
  • Tất cả: 6,814,598

WEBSITE BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY TRÀ VINH

Trưởng Ban biên tập: Trần Quốc Tuấn

Chức vụ: Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.  

Ghi rõ nguồn "Trang tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này.

Chung nhan Tin Nhiem Mang

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ TRÀ VINH

Địa chỉ: số 4, Nguyễn Thái Học, Khóm 4, Phường 1, Thành phố Trà Vinh

Điện thoại: 02943.853574 

Email: btgtutravinh@travinh.gov.vn

Website: tuyengiao.travinh.gov.vn