Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu mạnh, văn minh

Toàn văn bài phát biểu của đồng chí Lê Văn Hẳn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh tại  mít-tinh kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh (5/1992 - 5/2022); 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022); 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Kính thưa đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thưa lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các tỉnh, thành bạn.

Kính thưa quý Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang; các vị chức sắc tôn giáo.

Kính thưa các đồng chí và quý đại biểu.

Kính thưa toàn thể Nhân dân tỉnh Trà Vinh!

Hôm nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh long trọng tổ chức mít-tinh kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh (5/1992 - 5/2022), 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022); 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Thay mặt Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Trà Vinh, tôi nhiệt liệt chào mừng đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; các đồng chí đại diện các tỉnh, thành bạn; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; quý Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang; các vị chức sắc tôn giáo; quý đại biểu khách quý; đại biểu đại diện các tầng lớp nhân dân về dự buổi lễ. Kính chúc các đồng chí, quý đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Kính thưa các đồng chí và quý đại biểu!

Vùng đất Trà Vinh được hình thành từ rất lâu đời, thuộc vùng Tây Nam Bộ. Kể từ khi địa danh Trà Vinh được xác lập với tư cách là tỉnh vào năm 1900, theo dòng lịch sử, tỉnh Trà Vinh đã nhiều lần đổi tên, sáp nhập và tái lập cho phù hợp với tình hình, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết tách tỉnh Cửu Long thành tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh; tỉnh Trà Vinh chính thức được tái lập, đi vào hoạt động từ tháng 5/1992 và phát triển ổn định đến ngày nay.

Những ngày đầu tái lập, tỉnh Trà Vinh phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Với gần 2.000 cán bộ, chiến sĩ từ Vĩnh Long được điều động về Trà Vinh nhận nhiệm vụ, Đảng bộ lúc đó có 9.841 đảng viên, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lâm thời chỉ có 22 đồng chí và Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ có 04 đồng chí. Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc vô cùng thiếu thốn; là một trong những tỉnh nghèo nhất ở đồng bằng sông Cửu Long khi đó, kinh tế thuần nông, sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ, thương mại và dịch vụ kém phát triển; điểm xuất phát về kinh tế - xã hội rất thấp và lạc hậu; kết cấu hạ tầng cả thành thị và nông thôn yếu kém; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực thấp; điều kiện ăn, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, hưởng thụ văn hóa của Nhân dân còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo rất cao.

Kế thừa truyền thống cha ông trong lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh đã ra sức phấn đấu vừa khắc phục những khó khăn về kinh tế - xã hội, vừa sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Sau 3 tháng tái lập, đến tháng 8/1992 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ V được tổ chức, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hướng đến mục tiêu sớm đưa Trà Vinh thoát khỏi tỉnh nghèo. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, sự hỗ trợ của các tỉnh, thành bạn, với chính sách hợp lý, cùng với sự đoàn kết, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân đã xây dựng Trà Vinh ngày càng đổi thay và vươn lên, đạt nhiều thành tựu nổi bật, tạo chuyển biến toàn diện trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần vào thành tựu chung của đất nước.

Để có được những thành tựu đó, việc củng cố và xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị vững mạnh về mọi mặt là điều quan trọng. Từ một Đảng bộ còn nhiều ấp, khóm chưa có chi bộ, đến nay số tổ chức cơ sở đảng đã tăng lên gấp 1,5 lần, số đảng viên tăng gấp 4,6 lần; 100% ấp, khóm đều có chi bộ, và có đảng viên nữ; riêng đối với những ấp, khóm có đông đồng bào Khmer đều có đảng viên là người Khmer. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trưởng thành và lớn mạnh. Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên không ngừng được nâng lên, số lượng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hàng năm đều tăng; tỷ lệ cán bộ trẻ, nữ, dân tộc được bầu vào cấp ủy, hội đồng nhân dân ngày càng tăng.

Bộ máy chính quyền các cấp được củng cố và kiện toàn ngày càng tinh gọn, giảm đầu mối, giảm cấp phó, được cơ cấu lại theo tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm. Đội ngũ cán bộ, công chức được bổ sung, đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị. Năm 1992, chỉ có gần 1.800 cán bộ, công chức có trình độ đại học, cao đẳng trở lên. Đến nay đã có 2.280 cán bộ, công chức, viên chức có học hàm, học vị là Giáo sư, Phó Giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ; trên 14.300 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ đại học và tương đương và gần 4.700 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ trung cấp, cao đẳng; tỉnh đã đưa đi đào tạo, bồi dưỡng trên 141.000 lượt cán bộ, có nhiều cán bộ được đưa đi đào tạo ở nước ngoài, đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.

Kính thưa các đồng chí, đồng bào tỉnh Trà Vinh thân mến!

Cùng với củng cố hệ thống chính trị, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn quan tâm đến phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng. Giá trị tổng sản phẩm nội địa tăng trưởng bình quân 11,5% năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng giá trị nông - lâm nghiệp - thủy sản từ 77,9% năm 1992 giảm còn 30,93% năm 2021; công nghiệp - xây dựng từ 8,5% năm 1992 tăng lên 34,93%, dịch vụ từ 13,6% tăng lên 34,14% vào năm 2021. Năm 1992, thu nhập bình quân đầu người ở mức 730.000 đồng, nhưng đến cuối năm 2021 đã đạt 63,15 triệu đồng, gấp hơn 86 lần so năm 1992.

Kinh tế nông nghiệp tăng trưởng, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước hình thành và phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung. Giá trị sản phẩm thu được trên diện tích đất trồng trọt từ 4,5 triệu đồng/ha năm 1992 tăng lên 140 triệu đồng/ha năm 2021 và trên diện tích đất mặt nước nuôi trồng thủy sản từ 27 triệu đồng/ha năm 1992 tăng lên 325 triệu đồng/ha năm 2021.

Đặc biệt, từ năm 2010, tỉnh Trà Vinh đã tập trung huy động các nguồn lực xã hội và vốn ngân sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Qua 12 năm xây dựng, đến nay toàn tỉnh có 80/85 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, 18 xã đạt nông thôn mới nâng cao; 06/09 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. 

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự phát triển vượt bậc, nhiều công trình lớn, trọng điểm quốc gia đã được triển khai đầu tư, tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nếu năm 1992, ngành công nghiệp của tỉnh chủ yếu là sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghệ lạc hậu, thị trường nhỏ hẹp…, tổng giá trị sản xuất chỉ đạt 270 tỷ đồng, thì đến cuối năm 2021 tổng giá trị sản xuất đạt trên 32.000 tỷ đồng, gấp hơn 118 lần so với năm 1992.

Toàn tỉnh hiện có 01 khu kinh tế; 03 khu công nghiệp, 04 cụm công nghiệp; phát triển 13 làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thu hút 385 dự án đầu tư, vốn đăng ký 3,1 tỷ USD và 122.200 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 56.000 lao động. Những năm gần đây tỉnh đang tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đưa kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, trong đó Khu Kinh tế Định An được Trung ương xác định là 01 trong 08 khu kinh tế ven biển trọng điểm của cả nước; Dự án Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào Sông Hậu, Bến cảng tổng hợp Định An, Trung tâm Điện lực Duyên Hải với công suất 4.490 MW và các công trình điện gió, điện mặt trời… là nền tảng cho tỉnh hướng đến mục tiêu trở thành một trong những tỉnh trọng điểm phát triển kinh tế biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, tranh thủ sự đầu tư của Trung ương tỉnh đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông để phá thế độc đạo.

Qua 30 năm xây dựng và phát triển, hệ thống giao thông đường bộ phát triển nhanh, đến nay toàn tỉnh có 04 tuyến Quốc lộ, 05 tỉnh lộ, có trên 5.545km đường giao thông nông thôn, trên 96% số xã đạt tiêu chí về giao thông nông thôn. Nhiều công trình mới được xây dựng như: cầu Cổ Chiên, Quốc lộ 53 được nâng cấp, mở rộng… góp phần hình thành hệ thống giao thông thuận tiện rút ngắn khoảng cách giữa trung tâm tỉnh với các địa phương, giữa Trà Vinh với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước phát triển cả số lượng và chất lượng. Sự nghiệp giáo dục được quan tâm tập trung chỉ đạo, đến nay 100% trường học được kiên cố hóa, đã có 149/405 trường đạt chuẩn quốc gia; 106/106 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng nâng cao về chất lượng và số lượng, đã có 99% đạt chuẩn và trên chuẩn về. Trường Đại học Trà Vinh có sự phát triển không ngừng; đang đào tạo 120 chương trình (trong đó, có 10 ngành bậc tiến sĩ; 25 ngành bậc thạc sĩ); là trường có số lượng chương trình đào tạo đạt kiểm định quốc tế cao so với các trường ở khu vực... Đây là nơi đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, góp phần tăng sản phẩm mới, năng suất, chất lượng lao động, thu nhập cho người dân của Trà Vinh và vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có trạm y tế và đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; tỉnh đạt 25,46 giường bệnh và 9 bác sĩ/vạn dân (năm 1992 là 10,61 giường bệnh và chỉ đạt 1,69 bác sĩ/vạn dân); đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên khoa I, II ngày càng tăng; đưa Bệnh viện đa khoa 700 giường vào hoạt động và hình thành nhiều phòng khám, bệnh viện ngoài công lập chất lượng cao. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm từ 46% năm 1992 xuống còn 5,3% năm 2021; tỷ lệ trẻ được tiêm chủng mở rộng hàng năm đạt từ 98% trở lên. Đặc biệt, trong đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 bùng phát, tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt bằng nhiều biện pháp kiểm soát hiệu quả tình hình, thực hiện tốt an sinh xã hội, đã sớm đưa tỉnh trở lại trạng thái bình thường mới.

Chương trình giảm nghèo bền vững cũng đạt nhiều kết quả quan trọng. Khi tái lập tỉnh, với gần 20% hộ đói, 40% hộ nghèo, nhưng với sự quyết tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh người nghèo được tiếp cận đầy đủ các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập; hạ tầng phục vụ sản xuất được đầu tư, một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng, giúp người nghèo cải thiện điều kiện sống. Từ đó, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo nhanh và ngày càng bền vững, đến cuối năm 2021, theo tiêu chuẩn nghèo cũ, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,56%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer giảm còn 0,89%. Công tác thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách an sinh xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt. Tỉnh đã triển khai Đề án hỗ trợ xây dựng mới, sửa chữa cho 100% gia đình người có công với cách mạng khó khăn về nhà ở.

Kính thưa các đồng chí, quý đại biểu!

Trà Vinh là tỉnh có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo, trên 31% đồng bào dân tộc Khmer, trên 51% người theo tôn giáo. Ngay sau khi tái lập tỉnh, cùng với việc thực hiện tốt các chương trình, dự án của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 03 nghị quyết chuyên đề và 01 kết luận về phát triển toàn diện vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer, đã góp phần quan trọng tạo sự chuyển biến tích cực mọi mặt về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc. Tỉnh hỗ trợ xây dựng hàng trăm ngàn căn nhà cho hộ Khmer nghèo; hàng ngàn hộ được hỗ trợ vốn, đất sản xuất, đất ở và nhiều chính sách hỗ trợ khác. Đồng bào người Hoa, người Chăm, người Ấn… được tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh và phát huy bản sắc văn hóa. Quan tâm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Trà Vinh. Tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân luôn được củng cố và phát huy. Hôm nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất cho thành tích xuất sắc trong thực hiện chính sách đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 An ninh - quốc phòng luôn được giữ vững ổn định. Trong những ngày đầu mới tái lập, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội còn nhiều yếu tố gây bất ổn định, nhưng cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết một lòng, khắc phục mọi khó khăn thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến an ninh, trật tự ngay tại cơ sở, đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Với những kết quả đạt được trong 30 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, nhưng quan trọng nhất, là bài học kinh nghiệm về tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và khơi dậy niềm tự hào về truyền thống yêu quê hương với ý chí, khát vọng vươn lên của mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân Trà Vinh. Từ đó, cùng nhau nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng và toàn diện. Kết quả trên đã đưa Trà Vinh thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, dần trở thành tỉnh phát triển trung bình khá trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tạo tiền đề quan trọng để tỉnh phát triển nhanh hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Những thành tựu đó được ghi nhận qua 02 lần được phong tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất; 02 lần được phong tặng danh hiệu Huân chương Lao động hạng Nhất. Thành tích đạt được trong thời gian qua đã góp phần làm dày thêm những thành tích của Đảng bộ và Nhân dân Trà Vinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kính thưa các đồng chí, đồng bào!

Bên cạnh thành tựu đạt được và những thuận lợi cơ bản, trước mắt Trà Vinh cũng còn những khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và chưa đồng bộ; nguồn lực huy động tại chỗ cho đầu tư phát triển chưa nhiều. Trình độ nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện các hoạt động chống phá với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, dịch bệnh dự báo còn tiếp tục diễn biến phức tạp, Nhà nước, doanh nghiệp và người dân sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tác động tiêu cực đến tình hình sản xuất và đời sống xã hội trên địa bàn.

Đánh giá những thành tựu 30 năm tái lập tỉnh và dự báo những thời cơ, thác thức trong thời gian tới, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định mục tiêu quan trọng là: Phấn đấu Trà Vinh đạt chuẩn Nông thôn mới trước năm 2025, là tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long trước năm 2030. Để phấn đấu đạt được mục tiêu mà Đại hội Đảng đã đề ra, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh phải đoàn kết, nhất trí một lòng, nỗ lực, quyết tâm cao, phấn đấu thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó chú trọng các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước các cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của con người Trà Vinh.

Thứ hai, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị, nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, tập trung phát triển kinh tế, ưu tiên phát triển các ngành sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, đẩy mạnh với tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển các loại hình dịch vụ du lịch; tập trung xây dựng, nâng cấp hoàn thiện các cơ sở y tế, phục vụ tốt nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách xã hội và an sinh xã hội.

Thứ tư, chú trọng phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, huy động tối đa các nguồn lực, đầu tư kết cấu hạ tầng gắn với liên kết vùng, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế, nguồn tài nguyên thiên nhiên về “Nắng và Gió” để sản xuất năng lượng tái tạo, góp phần xây dựng Trà Vinh trở thành một trong những tỉnh trọng điểm phát triển kinh tế biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ năm, gắn tăng trưởng kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo vệ môi trường. Duy trì, phát triển các loại hình văn hóa. Khuyến khích các hoạt động sáng tạo, sáng tác văn học, nghệ thuật. Chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Thứ sáu, triển khai có hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. 

Kính thưa các đồng chí và quý đại biểu!

Kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh, 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong giờ phút trang trọng và thiêng liêng này, Đảng bộ và Nhân dân Trà Vinh bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta. Người đã khởi xướng, lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi thân phận nô lệ, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Chúng ta mãi mãi trân trọng, ghi nhớ công ơn tổ tiên, cha ông đã tạo dựng nên mảnh đất, con người Trà Vinh hôm nay; mãi mãi tôn vinh và tri ân các anh hùng, liệt sĩ, các đồng chí đã chiến đấu, anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì quê hương Trà Vinh thân yêu; tri ân các Mẹ Việt Nam anh hùng, các cán bộ lão thành cách mạng và các thế hệ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân qua các thời kỳ lịch sử đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, xương máu và cả những người thân yêu của mình để giải phóng Trà Vinh, góp phần thống nhất nước nhà. Cảm ơn các thế hệ cán bộ ngày đầu tái lập tỉnh, các cán bộ đi trước đã đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng nên một Trà Vinh hôm nay.

Đảng bộ, Nhân dân Trà Vinh trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; sự hỗ trợ, giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành bạn đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Trà Vinh suốt chặng đường lịch sử đã qua.

Xin chân thành cảm ơn và nhiệt liệt biểu dương toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân Trà Vinh đang sinh sống, công tác trên khắp mọi miền của Tổ quốc và ở nước ngoài; các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đã nỗ lực, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, chia sẻ với những khó khăn của tỉnh, đồng hành và đóng góp xây dựng tỉnh Trà Vinh trong suốt 30 năm qua.

Trong không khí tự hào, với niềm tin và khí thế quyết tâm mới, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, các lực lượng vũ trang và Nhân dân tỉnh nhà, những người Trà Vinh đang sống, học tập, làm việc, công tác ở trong và ngoài nước tiếp tục phát huy truyền thống, hào khí quê hương Anh hùng, đồng tâm hợp sức, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn thách thức, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và sâu rộng công cuộc đổi mới, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu mạnh, văn minh, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh, xứng đáng với niềm tin cậy của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà, góp phần xây dựng nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Một lần nữa, xin trân trọng gửi đến đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; các đồng chí đại diện các tỉnh, thành bạn; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; quý Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang; các vị chức sắc, chức việc các tôn giáo; quý đại biểu khách quý cùng toàn thể Nhân dân lời chúc mạnh khỏe, lời chào đoàn kết và thắng lợi.

Trân trọng kính chào!

 

Tin khác
1 2 3 4 
TUYÊN TRUYỀN
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 8
  • Hôm nay: 292
  • Trong tuần: 18,721
  • Tất cả: 6,814,578

WEBSITE BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY TRÀ VINH

Trưởng Ban biên tập: Trần Quốc Tuấn

Chức vụ: Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.  

Ghi rõ nguồn "Trang tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này.

Chung nhan Tin Nhiem Mang

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ TRÀ VINH

Địa chỉ: số 4, Nguyễn Thái Học, Khóm 4, Phường 1, Thành phố Trà Vinh

Điện thoại: 02943.853574 

Email: btgtutravinh@travinh.gov.vn

Website: tuyengiao.travinh.gov.vn